Thứ Hai, 31 tháng 10, 2011

Hồi ức

Tưởng niệm cố TT Ngô Đình Diệm

Đến nay một số sử liệu giải mật ngoại quốc và nhiều hồi ký cuả tác giả Việt có đề cập đến hai ngày trọng đại trong lịch sử Đất nước chúng ta: Ngày 23.10.1955 Hoàng đế Bảo Đại bị truất phế và ngày 26.10.1956, ban hành bản Hiến Pháp Việt Nam đầu tiên. Ngày 23 tháng này sẽ đánh dấu 50 năm kỷ niệm việc thay đổi thể chế ở Việt Nam từ một nước Quân chủ lâu đời bước qua chế độ Cộng hòa tân thời. Sự thay đổi vừa nói đã vượt qua nhiều giai đoạn xung đột nội bộ quốc gia, giữa lúc Cộng sản Bắc Việt, thực dân Pháp và giáo phái ở miền Nam VN đang hỗn chiến với nhau. Trong vị thế Thứ trường rồi Bộ trưởng Nội vụ trong Nội các Ngô Đình Diệm từ 1955 cho đến cuối 1959, người viết đã chứng kiến và tham gia trực tiếp vào bi kịch trên đây. Mong bài này giúp độc giả biết thêm một số dữ kiện chưa hề tiết lộ.

Trường hợp dẫn đến quyết định truất phế Bảo Đại

Hoàng tữ Vĩnh Thụy (hay mệ Vững trong hoàng tộc), sinh ngày 22.10.1913 tại Huế và mất ngày 31.7.1997 tại Paris, hưởng thọ 83 tuổi, là con trai duy nhất của vua Khải Định và vị Hoàng đế chót của triều Nguyễn Gia Long. Cuộc đời chính trị của ông có thể chia ra thành ba giai đọan: 1) Hoàng đế, 1932-1945. 2) Quốc trưởng, 1949-1955, và 3) Lưu vong, 1955-1997. Khi vua Khải Định băng hà năm 1932 thì Hoàng tử Vĩnh Thụy được 12 tuổi, đang du học tại Pháp dưới sự chăm sóc của vợ chồng cựu Toàn quyền Charles. Ông trở về VN dự lễ tấn phong và lên ngôi dưới danh hiệu Bảo Đại.


Nhựt đảo chính Pháp tại Đông Dương ngày 9.3.1945. Bảo Đại cho thành lập chính phủ Trần Trọng Kim ngày 16.4.1945 theo lời yêu cầu của Đại sứ Yokoyama và tuyên bố hủy bỏ tất cả các Hòa ước bất bình đẳng ký với Pháp năm Nhâm Tuất 1862, Giáp Tuất 1874, Quý Mùi 1883 và Giáp thân 1884. Nhựt hoàng đầu hàng vô điều kiện ngày 15.8.1945, thủ tướng Trần Trọng Kim từ chức. Hai hôm sau, ngày 17 tháng 8, Việt Minh (tức Mặt trận VN Độc lập Đồng Minh) biến cuộc biểu tình lối 20.000 người được Tổng hội công chức phát động trước Nhà Hát Lớn Hànội để ủng hộ Chính phủ Trần Trọng Kim thành một cuộc tuần hành đòi Độc lập. Lần đầu tiên lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện. Khâm sai Phan Kế Toại rút lui, nhường chỗ cho một Ủy ban Nhân dân tạm thời, không nêu rõ danh tánh các thành viên. Ngày 19 tháng 8, Việt Minh cướp chính quyền trong một cuộc binh biến mà chúng huênh hoang gọi là cuộc Cách Mạng Tháng Tám hay Tổng Khởi Nghĩa.

Những bí ẩn bên trong Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng

Bảo Đại đã nhân danh chống Pháp để thoái vị và trao quyền cho CS lãnh đạo cuộc chiến kết thúc bằng trận đánh cuối cùng tại Điện Biên Phủ ngày 7.5.1954. Oái oăm thay, chính đế quốc Pháp đã đặt Bảo Đại trở lại trên ngai vàng để chống lại CS Bắc Việt sau khi, tại Hà Đông, Cao ủy Bollaert tuyên bố Pháp muốn tái đàm với cánh quốc gia.Tháng 8.1948, Bảo Đại chỉ định Trung tướng Nguyễn Văn Xuân thành lập "Chính phủ Trung ương Lâm thời VN."

Dưới sự lãnh đạo của Quốc trưởng Bảo Đại, qua những nội các liên tiếp Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Phan Long, Trần Văn Hữu, Nguyễn Văn Tâm và Bửu Lộc, Miền Nam VN rơi vào cảnh hỗn loạn. Cuối cùng nhà vua phải kêu cứu đến chí sĩ Ngô Đình Diệm ngày 9.7.1954, mặc dù trước đó ông Diệm đã ba lần thoái thác.

Hiệp ước đình chiến Genève ký kết ngày 21.7.1954 chia đôi VN nơi vĩ tuyến 17. Bảo Đại gây khó khăn cho ông Diệm bằng cách từ Cannes gởi ngày 28.4. và 30.4.1955 hai công điện liên tiếp triệu hồi TT Diệm qua Pháp để "tham khảo ý kiến" vì ông Diệm khai trừ tướng Nguyễn Văn Hinh, không chấp nhận tướng Nguyễn Văn Vĩ như tân Tổng tư lệnh Quân đội, cương quyết kết thúc kế hoạch dẹp giáo phái, quét sạch Bình Xuyên và giải tán tổ chức võ trang UMDC của Leroy. Ý đồ của Bảo Đại là thay thế Thủ tướng Diệm, có thể bằng Lê Văn Viễn tự Bảy Viễn, sếp sòng Bình Xuyên, lúc đó đang nắm giữ guồng máy cảnh sát, công an và kiểm soát sòng bài Đại Thế Giới để cung cấp tiền nong cho Quốc trưởng.

Bị lấn vào chân tường, TT Diệm phúc đáp: Hội đồng Nội các không đồng ý để ông xuất ngọai giữa tình thế rối ren của xứ sở và một Hội nghị các Chính đảng và Nhân sĩ Quốc gia sẽ được triệu tập ngày 29.4.1955 tại Dinh Độc Lập để cho biết ý kiến "Thủ tướng có bổn phận thi hành lệnh triệu thỉnh của Quốc trưởng hay không?" Hội nghị này gồm có 18 chính đảng/đoàn thể và 29 nhân sĩ Miền Nam. Đặc biệt, ba tổ chức nổi bật vì có thực lực: VN Dân Xã Đảng (Hoà Hảo) mà bí thơ là Nguyễn Bảo Toàn, VN Phục Quốc Hội (Cao Đài) do Hồ Hán Sơn thay mặt và Mặt trận Quốc gia Kháng chiến VN của Trình Minh Thế, do Nhị Lang đại diện.

Ngô Đình Diệm có sẵn sàng truất phế Bảo Đại hay không?


Đa số các tác giả trà lời: Không. Trừ Đỗ Mậu ("VN Máu Lửa Quê Hương tôi" nxb Hoa kỳ 1986). Tất cả những ai từng tiếp xúc với ông Diệm đều nhận xét ông luôn luôn giữ thái độ khiêm cung thành tín khi nói đến các vua chúa triều Nguyễn, kể luôn Bảo Đại, mà ông không bao giờ phê bình thiếu lễ độ. Người viết còn nhớ: Sau 1956, khi ban sắc lệnh cải tổ hành chính, Tổng thống Diệm đặt trọng tâm vẽ lại bản đồ các tỉnh Miền Nam (thay đổi ranh giới, đặt tên mới, tổ chức quy chế xã, quận và đô thị..vv..) nhưng giữ nguyên các cơ chế tại Miền Trung do các vua chúa đặt ra, vì cho rằng tổ chức này không cần canh tân. Khi Bộ Nội vụ, do người viết phụ trách, làm thủ tục tịch thu tài sản của Cựu Hoàng, Tổng thống ra lệnh nới tay, giúp Đức Từ Cung có phương tiện sinh sống đầy đủ và chỉ thị cho các tỉnh trưởng trùng tu lăng tẩm của những đấng Tiên Đế.

Cuộc trưng cầu dân ý ngày 26.10.1955

Quyết nghị ngày 29.4.1955 của Hội đồng Nhân Dân Cách Mạng khiến Thủ tướng Diệm không thể tránh tổ chức Trưng cầu Dân ý, dù muốn hay không. Trong thâm tâm, là một quan lại của Triều đình, ông Diệm bảo hoàng và rất lo ngại phạm tội khi quân (crime de lèse majesté). Nếu không bị Bảo Đại lấn ép quá đáng, ông không bao giờ có thái độ phạm thượng. Cố vấn Nhu, vốn không có cảm tình với chế độ quân chủ, dứt khoát hơn. Vấn đề là chụp thời cơ, đừng để quyền lực vuột khỏi tầm tay, chận các khuynh hướng quá khích - phiá quốc gia cũng như giáo phái đối lập - khuynh đảo chính phủ. Trong tình thế nguy kịch, gần như tuyệt vọng, Ông Diệm rất cần sự ủng hộ của thực lực Trình Minh Thế, được Lansdale bảo đảm, nhưng ông cũng biết Thế là một con dao hai lưỡi, một con ngựa bất kham, có nhiều cao vọng. Thế đã cố gắng thuyết phục ông Nhu - nhưng thất bại - vượt Bến Hải, chiếm hai tỉnh địa đầu Bắc Việt lập cái thế quân bình. Thế tánh tình bộc trực, ngang tàng, độc lập. Thế có đầu óc chính trị, tuy hợp tác với Chính phủ nhưng vẫn giữ mối giao hảo thân tình với Năm Lửa, Bảy Viển và đặc biệt Ba Cụt. Có lần Lê Quang Vinh và vợ là Cao Thị Nguyệt vào chiến khu thăm Thế, hai bên có vẻ tâm đầu ý hợp. Nhị Lang kể lại trong hồi ký, trang180: Trước khi ra về, Ba Cụt nói với Thế: "Miền Đông có anh, Miền Tây có tôi, chúng ta sợ gì lũ cộng sản?" Tuy nhiên, theo gót "thầy dùi" Lansdale, vai trò king maker của Thế lộ liễu quá sớm. Điều này không khỏi làm Ngô Đình Nhu suy nghĩ.

Trong VN Nhân Chứng, trang 133, Trần Văn Đôn viết: Theo ông Nhu kể lại, trước ngày trưng cầu dân ý, TT Diệm tự tay viết một là thư dài giải thích tình hình và mời Bảo Đại về nước lãnh đạo nhưng Cựu hoàng đòi một triệu mỹ kim. Trong Le Dragon D'Annam, trang 342, Bảo Đại cho biết ông không đồng ý lập một chính phủ lưu vong, không chịu "dấn thân vào một cuộc phiêu lưu mới" và phủ nhận chính sách Ngô Đình Diệm. Cựu chủ tịch Quốc Hội Trương Vĩnh Lễ nhận xét nơi trang 30 của hồi ký "VN, Où est la Vérité?" (nxb Lavauzelle, Paris 1989): Trên phiếu, dân chúng có thể chọn trả lời một trong hai câu hỏi: 1) tôi truất phế Bảo Đại và chọn N Đ Diệm như Tổng thống VN với sứ mạng lập một thể chế cộng hoà hay 2) tôi không truất phế bảo Đại và không công nhận N Đ Diệm như Tổng thống để thành lập thể chế cộng hoà. Kết quả: ông Diệm thắng 98.2%. Tỷ lệ này có vẻ không hoàn toàn trung thực, dù quần chúng mến mộ nhiệt tình ông Diệm lúc đó.

Bầu Quốc hội Lập hiến (tháng 3.1956) và ban hành Hiến pháp Đệ nhất Cộng hoà (ngày 26.10.1956)

Uy quyền của Tổng thống Ngô Đình Diệm mỗi ngày thêm vững, ít nữa cho đến cuối 1960. Ngày 20.7.1955, Chính phủ Diệm tuyên bố không chấp nhận chuẩn bị tổng tuyển cử qui định bởi Hiệp ước Genève. Với sự cộng tác của Bộ Nội vụ do người viết phụ trách, Hội đồng Nhân Dân Cách mạng tổ chức một cuộc biểu tình vĩ đại để đuổi về Bắc phái đoàn Văn Tiến Dũng trong Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến (gồm có Ba Lan và Ấn độ). Văn phòng đại diện CS đặt tại khách sạn Majestic, Bến Bạch Đằng. Majestic bị phóng hoả, gây thiệt hại trên 5 triệu bạc, cũng như một khách sạn khác mang tên Galliéni ở đường Trần Hưng Đạo. Văn Tiến Dũng và các đồng chí thoát thân về trại của chúng ở Gia Định, bên cạnh nhà thương Nguyễn Văn Học. Nhiều ngày liên tiếp, đồng bào di cư, sinh viên, học sinh cô lập họ bằng những lời chửi rủa thậm tệ. Điện, nước, lương thực bị cúp hoàn toàn. Cuối cùng Ủy Hội liên lạc với chính phủ xin bảo đảm cho phái đoàn Bắc Việt rời Sàigòn. Tổng Nha Cảnh sát/Công An cho những chiếc xe nhà binh bít bùng chở chúng lúc trời hừng sáng đến Tân Sơn Nhứt dưới sự đả đảo vang dậy của quần chúng. Tác giả bài này đích thân đến phi trường kiểm soát mọi thủ tục. Vào lúc máy bay Ủy hội sắp cất cánh, một sĩ quan CS hốc hác, đầu đội nón cối, không mang phù hiệu, bước đến chào người viết theo lối nhà binh, tự xưng là thiếu tá Văn Tiến Dũng. Y tỏ lời cám ơn giúp phái đòan ra đi trong trậttự.
Kết luận

Năm chục năm thấm thoát trôi qua. Dở lại những trang sử cũ, lòng buồn vô hạn. Chính trị đã đẩy xứ sở xuống đến tận đáy vực của tang tóc và chia rẽ, nhân danh một cuộc chiến tương tàn do Đế quốc giựt dây. Đất nước đã thí nghiệm đau đớn nhiều thể chế: Quân chủ, Dân chủ và Xã hội chủ nghĩa. Đến nay, vẫn chưa tìm ra đáp số cho các vấn đề Chậm tiến, Tự Do và Thống Nhất. VN vẫn là một con thuyền say, trôi dạt không bờ, không bến. Nhóm cầm quyền ở Hànội vẫn bịt mắt trước cảnh khổ nhục của Việt Nam. Chừng nào họ mới thức tỉnh?

LÂM LỄ TRINH
Thủy Hoa Trang Ngày 9.10. 2005

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét